Ở Việt Nam hiện nay, "công ty liên doanh" không còn là một loại hình doanh nghiệp riêng như thời luật đầu tư nước ngoài trước đây, mà là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần có cả thành viên Việt Nam và thành viên nước ngoài. Về thủ tục, có hai đường: cùng nhau lập công ty mới, khi đó phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước rồi mới đăng ký doanh nghiệp; hoặc bên Việt Nam đã có công ty, bên nước ngoài vào bằng góp vốn, mua phần vốn góp.
Thủ tục chỉ là phần dễ. Liên doanh thường đổ vỡ vì những điều không được chốt từ đầu: ai điều hành, việc gì cần cả hai bên đồng ý, giá trị tài sản góp, và khi bế tắc thì xử lý ra sao. Bài này đi qua cả hai phần, kèm danh mục điều khoản cần có. Liên doanh có giá trị lớn hoặc có đất nên có luật sư ngay từ khi đàm phán, không chỉ lúc nộp hồ sơ.
Hai con đường thành lập và khi nào chọn đường nào
Hai con đường cho ra cùng một kết quả trên giấy: một công ty có vốn của cả hai bên. Nhưng chi phí thời gian, rủi ro thừa hưởng và giấy phép con thì khác nhau đáng kể.
| Tiêu chí | Cùng lập công ty mới | Bên nước ngoài góp vốn vào công ty Việt có sẵn |
|---|---|---|
| Thủ tục chính | Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, rồi đăng ký doanh nghiệp | Đăng ký góp vốn với cơ quan đăng ký đầu tư nếu thuộc diện, rồi thay đổi đăng ký doanh nghiệp |
| Lịch sử pháp lý | Sạch, bắt đầu từ con số không | Thừa hưởng toàn bộ nợ, hợp đồng, tranh chấp cũ của công ty |
| Giấy phép con, khách hàng | Phải xin, phải tìm lại từ đầu | Giữ được những gì công ty đang có, nếu điều kiện vẫn đáp ứng |
| Rà soát trước khi ký | Rà soát đối tác và tài sản góp | Rà soát cả công ty: sổ sách, thuế, lao động, đất, hợp đồng lớn |
| Hợp với | Dự án mới, đối tác chưa có pháp nhân phù hợp | Đối tác đã vận hành ổn định, có giấy phép khó xin |
Đường thứ hai thường nhanh hơn nhưng chỉ khi bước rà soát được làm nghiêm túc. Một khoản nợ thuế hay tranh chấp lao động chưa lộ ra có thể ăn mất phần lớn giá trị phần vốn bạn bỏ ra.
Hồ sơ khi hai bên cùng lập công ty mới
Khi có nhà đầu tư nước ngoài tham gia thành lập, kể cả với tỷ lệ nhỏ, công ty mới phải đi qua bước đăng ký đầu tư. Trong hồ sơ, cả hai bên đều là nhà đầu tư của dự án: mỗi bên nộp tài liệu tư cách pháp lý và tài liệu năng lực tài chính của mình, đề xuất dự án ghi rõ phần vốn, tỷ lệ, tiến độ góp của từng bên. Bên Việt Nam là doanh nghiệp thì nộp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, báo cáo tài chính; là cá nhân thì nộp giấy tờ tuỳ thân và tài liệu tài chính tương ứng.
Hồ sơ nộp cho Sở Tài chính nơi đặt dự án, hoặc Ban quản lý khu nếu dự án trong khu công nghiệp, khu kinh tế. Sau khi có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, hai bên nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp với điều lệ đã thống nhất và danh sách thành viên hoặc cổ đông sáng lập.
Điểm cần lưu ý là tỷ lệ góp. Nếu ngành của dự án có trần sở hữu nước ngoài hoặc yêu cầu phải có đối tác Việt Nam, tỷ lệ ghi trong hồ sơ phải nằm trong giới hạn đó, và về sau mỗi lần thay đổi tỷ lệ cũng phải xét lại. Nếu bên nước ngoài nắm trên 50% vốn điều lệ, chính công ty liên doanh sẽ bị coi như nhà đầu tư nước ngoài khi nó đầu tư tiếp, góp vốn vào công ty khác hay lập dự án mới.
Góp vốn bằng tài sản: chỗ hay sinh tranh chấp nhất
Tài sản nào được góp. Ngoài tiền, các bên có thể góp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và tài sản khác định giá được bằng tiền. Bên Việt Nam hay góp quyền sử dụng đất hoặc nhà xưởng; bên nước ngoài hay góp máy móc, công nghệ, thương hiệu.
Định giá phải được các bên đồng thuận hoặc do tổ chức thẩm định giá thực hiện. Giá trị tài sản góp quyết định tỷ lệ sở hữu. Định giá cao hơn thực tế là chuyển lợi ích từ bên này sang bên kia, và pháp luật doanh nghiệp quy định các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về phần chênh lệch nếu định giá cao hơn giá trị thật tại thời điểm góp.
Góp quyền sử dụng đất phải kiểm điều kiện đất. Đất phải đủ điều kiện để góp vốn theo Luật Đất đai 2024, loại đất và mục đích sử dụng phải hợp với dự án, và việc chuyển quyền sang công ty phải được đăng ký. Đất thuê trả tiền hằng năm có quy định riêng về quyền góp vốn; hãy kiểm kỹ trước khi đưa vào thoả thuận.
Máy móc, công nghệ góp từ nước ngoài. Máy móc nhập khẩu để góp vốn đi qua thủ tục hải quan, có thể phải đáp ứng quy định về máy móc đã qua sử dụng. Công nghệ góp vốn có thể thuộc diện phải đăng ký chuyển giao công nghệ. Thời gian làm các thủ tục này cần tính vào tiến độ góp vốn.
Chuyển quyền sở hữu mới là đã góp xong. Ký biên bản định giá chưa phải là góp vốn. Tài sản có đăng ký quyền sở hữu phải được làm thủ tục chuyển sang tên công ty; tài sản không đăng ký phải có biên bản giao nhận. Thiếu bước này, phần góp đó có thể bị coi là chưa góp.
Những điều phải chốt trong thoả thuận liên doanh
Thoả thuận liên doanh, hay thoả thuận giữa các thành viên, cổ đông, là văn bản hai bên ký với nhau bên cạnh điều lệ. Dưới đây là các nhóm điều khoản mà một liên doanh cần có câu trả lời rõ trước khi nộp hồ sơ:
- Tỷ lệ vốn, lịch góp và hệ quả khi một bên góp chậm hoặc không góp: giảm tỷ lệ, bên kia được góp thay, hay chấm dứt.
- Cơ cấu quản lý: ai cử chủ tịch, giám đốc hoặc tổng giám đốc, kế toán trưởng; nhiệm kỳ; quyền bãi nhiệm.
- Danh mục việc cần cả hai bên đồng ý: tăng giảm vốn, vay lớn, bán tài sản lớn, đổi ngành nghề, chia lợi nhuận, ký hợp đồng với bên liên quan.
- Cơ chế xử lý bế tắc khi hai bên không thống nhất: thương lượng cấp cao, chuyên gia độc lập, quyền mua lại theo công thức giá đã định.
- Chuyển nhượng phần vốn: quyền ưu tiên mua, quyền bán kèm, quyền kéo theo, thời gian khoá chuyển nhượng.
- Không cạnh tranh và bảo mật: bên nào được làm cùng ngành ở đâu, trong bao lâu.
- Hợp đồng đi kèm: thuê đất, cung cấp nguyên liệu, li-xăng thương hiệu, phân phối, và giá giao dịch giữa liên doanh với từng bên.
- Giải quyết tranh chấp: toà án hay trọng tài thương mại, địa điểm, ngôn ngữ, luật áp dụng.
- Chấm dứt liên doanh: các sự kiện kích hoạt, cách định giá phần vốn khi một bên rút, xử lý tài sản và lao động.
Mọi điều khoản nêu trên, phần nào liên quan đến quản trị công ty, nên được đưa tương ứng vào điều lệ. Thoả thuận riêng mà trái với điều lệ hoặc luật doanh nghiệp thì khó thi hành ở cấp công ty, dù vẫn có giá trị như cam kết dân sự giữa hai bên.
Điều lệ và thoả thuận liên doanh: vì sao phải khớp
Điều lệ là văn bản công ty nộp cho cơ quan đăng ký, ràng buộc công ty và mọi thành viên, kể cả người mua phần vốn sau này. Thoả thuận liên doanh chỉ ràng buộc những bên đã ký. Khi hai văn bản nói khác nhau, chẳng hạn thoả thuận cho bên nước ngoài quyền phủ quyết việc vay ngân hàng nhưng điều lệ chỉ đòi đa số thông thường, thì hội đồng thành viên vẫn có thể thông qua hợp lệ theo điều lệ, và bên kia chỉ còn đường kiện đòi bồi thường vì vi phạm thoả thuận.
Cách làm an toàn là soạn thoả thuận liên doanh trước, rồi chuyển những điều liên quan tới biểu quyết, bổ nhiệm, chuyển nhượng, chia lợi nhuận vào điều lệ. Luật doanh nghiệp cho phép điều lệ quy định tỷ lệ biểu quyết khác với tỷ lệ mặc định trong một số trường hợp, nên nhiều cơ chế bảo vệ bên thiểu số có thể ghi thẳng vào điều lệ.
Ngôn ngữ cũng là một vấn đề. Hồ sơ nộp cơ quan nhà nước bằng tiếng Việt; thoả thuận liên doanh thường song ngữ. Hãy ghi rõ bản nào ưu tiên khi có khác biệt, và cho người hiểu luật Việt Nam đọc bản tiếng Việt của điều lệ trước khi ký, vì bản dịch lệch một chữ trong điều khoản biểu quyết có thể thay đổi cả cán cân quyền lực.
Bế tắc, tranh chấp và cửa ra
Liên doanh tỷ lệ năm mươi – năm mươi là kiểu dễ bế tắc nhất, vì không bên nào tự thông qua được gì. Liên doanh lệch tỷ lệ thì dễ phát sinh cảm giác bên nhỏ bị gạt ra. Cả hai kiểu đều cần một cơ chế thoát đã được viết sẵn, chứ không để đến lúc mâu thuẫn mới bàn. Phổ biến là quyền chào mua, chào bán theo công thức giá định trước, hoặc quyền yêu cầu mua lại khi một bên vi phạm nghiêm trọng.
Về nơi giải quyết, nhiều liên doanh có bên nước ngoài chọn trọng tài thương mại vì xử kín, các bên chọn được trọng tài viên và phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể được công nhận ở Việt Nam theo Công ước New York. Toà án Việt Nam vẫn là lựa chọn hợp lệ, nhất là khi tài sản tranh chấp chủ yếu ở Việt Nam. Điều quan trọng là điều khoản giải quyết tranh chấp phải viết đúng, rõ tên tổ chức trọng tài, để không bị tuyên vô hiệu.
Một liên doanh có giá trị lớn, có đất, hoặc có công nghệ của bên nước ngoài là việc nên có luật sư cho từng bên, không dùng chung một người. Nếu bạn muốn trao đổi trước về cấu trúc, có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn (aicovan.com) rồi mới đi vào đàm phán chi tiết.
Câu hỏi thường gặp
Bên nước ngoài chỉ góp 10% thì có phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không?
Nếu lập công ty mới có nhà đầu tư nước ngoài tham gia thành lập thì có, tỷ lệ không làm thay đổi yêu cầu này. Nếu bên nước ngoài góp vốn vào công ty Việt Nam đã có, thì xét theo các nhóm phải đăng ký góp vốn; nhiều trường hợp tỷ lệ nhỏ chỉ cần thay đổi đăng ký doanh nghiệp.
Liên doanh có bắt buộc phải có người Việt Nam làm giám đốc không?
Luật doanh nghiệp không bắt giám đốc phải là người Việt Nam. Điều kiện là công ty luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Một số ngành có quy định riêng về người quản lý, nên kiểm thêm luật chuyên ngành.
Bên Việt Nam góp quyền sử dụng đất thì định giá thế nào?
Các thành viên có thể tự thoả thuận giá hoặc thuê tổ chức thẩm định giá. Giá thoả thuận phải được các bên đồng ý và chịu trách nhiệm nếu cao hơn giá trị thật. Với đất, nên có chứng thư thẩm định giá độc lập để làm căn cứ khi có tranh chấp về tỷ lệ sau này.
Có thể chuyển công ty 100% vốn nước ngoài thành liên doanh không?
Có, bằng cách cho đối tác Việt Nam góp thêm vốn hoặc mua lại một phần vốn của chủ sở hữu. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sẽ phải chuyển sang loại hình có nhiều thành viên. Mỗi bước có hồ sơ thay đổi đăng ký riêng.
Thoả thuận liên doanh có phải nộp cho cơ quan nhà nước không?
Thông thường không bắt buộc nộp cho cơ quan đăng ký; thứ phải nộp là điều lệ và danh sách thành viên. Một số trường hợp đặc thù như hợp đồng BCC thì hợp đồng là thành phần hồ sơ. Dù không nộp, thoả thuận vẫn ràng buộc các bên đã ký.
Liên doanh tan rã thì phần vốn của bên nước ngoài được chuyển ra nước ngoài thế nào?
Tiền thu được từ chuyển nhượng vốn hoặc chia tài sản khi giải thể được chuyển ra nước ngoài qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp, sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Nên giữ đủ chứng từ góp vốn ban đầu, vì đó là căn cứ để ngân hàng xử lý.